Bài giảng Ngữ văn 11 - Bài: Vội vàng của Xuân Diệu

Bài giảng Ngữ văn 11 - Bài: Vội vàng của Xuân Diệu

I. TÌM HIỂU CHUNG TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

1. Tác giả:

- Xuân Diệu (1916 – 1985), có bút danh là Trảo Nha.

- Ông là nghệ sĩ lớn, nhà văn hóa lớn có sức sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ và sự nghiệp văn học phong phú.

2. Tác phẩm:

* Xuất xứ: Rút từ tập “Thơ thơ” (1938), tập thơ đầu tay cũng là tập thơ khẳng định vị trí của Xuân Diệu – thi sĩ “mới nhất trong các nhà thơ mới”.

* Bố cục: gồm ba phần

 - Đoạn một (13 câu đầu): bộc lộ tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết.

 - Đoạn hai (câu 14 đến câu 29): nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người, trước sự trôi qua nhanh chóng của thời gian.

 - Đoạn ba (còn lại): lời giục giã cuống quýt, vội vàng để tận hưởng những giây phút tuổi xuân của mình giữa mùa xuân của cuộc đời, của vũ trụ.

 

ppt 23 trang lexuan 18410
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Ngữ văn 11 - Bài: Vội vàng của Xuân Diệu", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
VỘI VÀNG -XUÂN DIỆU-I. TÌM HIỂU CHUNG TÁC GIẢ, TÁC PHẨM1. Tác giả:- Xuân Diệu (1916 – 1985), có bút danh là Trảo Nha.- Ông là nghệ sĩ lớn, nhà văn hóa lớn có sức sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ và sự nghiệp văn học phong phú.2. Tác phẩm:* Xuất xứ: Rút từ tập “Thơ thơ” (1938), tập thơ đầu tay cũng là tập thơ khẳng định vị trí của Xuân Diệu – thi sĩ “mới nhất trong các nhà thơ mới”.* Bố cục: gồm ba phần - Đoạn một (13 câu đầu): bộc lộ tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết. - Đoạn hai (câu 14 đến câu 29): nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người, trước sự trôi qua nhanh chóng của thời gian. - Đoạn ba (còn lại): lời giục giã cuống quýt, vội vàng để tận hưởng những giây phút tuổi xuân của mình giữa mùa xuân của cuộc đời, của vũ trụ. II. ĐỌC HIỂU CHI TIẾT VĂN BẢN1. Tình yêu cuộc sống « trần thế » tha thiết (Câu 1->13) Câu 1-13: Tình yêu cuộc sống trần thế “tha thiết”. a. Câu 1-4: Khát vọng của nhà thơ.- Niềm ước muốn kì lạ, táo bạo, liều lĩnh:  + tắt nắng + buộc gió- Mục đích : Giữ lại sắc màu, mùi hương.- Thực chất: Sợ thời gian trôi chảy, muốn níu kéo thời gian, muốn tận hưởng mãi hương vị của cuộc sống. Bất tử hóa cái đẹp.- Nghệ thuật: + Thể thơ ngũ ngôn ngắn gọn, rõ ràng như lời khẳng định, cố nén cảm xúc và ý tưởng. + Điệp ngữ: Tôi muốn / tôi muốn gợi một cái tôi cá nhân khao khát giao cảm và yêu đời đến tha thiết.b. Câu 5-13: Cảm nhận thiên đường trên mặt đất.- Được cảm nhận ở thời điểm ban đầu: + Buổi sáng – khởi đầu một ngày mới.+ Tuần tháng mật – khởi đầu cuộc sống lứa đôi.+ Tháng giêng – khởi đầu cho một năm mới. Thời khắc đẹp đẽ, tinh khôi, tươi mới.- Hình ảnh, màu sắc, âm thanh đẹp đẽ, tươi non, trẻ trung:+ Ong bướm tuần tháng mật+ Hoa của đồng nội xanh rì+ Lá của cành tơ phơ phất+ Khúc tình si của yến anh+ Ánh sáng chớp hàng mi Cảnh vật quen thuộc, gần gũi, mang nét đặc trưng của mùa xuân. Hấp dẫn, gợi cảm như một người thiếu nữ trẻ trung, đầy sức sống. - So sánh cuộc sống thiên nhiên như người đang yêu, như tình yêu đôi lứa đắm say, tràn trề hạnh phúc. Tháng giêng ngon như một cặp môi gần + So sánh mới mẻ, độc đáo và táo bạo: lấy con người làm chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp trên thế gian – điều mà trong thơ cổ điển chưa có được.  + Thể hiện sự chuyển đổi cảm giác tài tình từ thị giác sang vị giác để ca ngơi vẻ đẹp tình yêu đôi lứa, hạnh phúc tuổi trẻ.- Tâm trạng đầy mâu thuẫn nhưng thống nhất: Sung sướng > Cảm nhận được sự trôi chảy của thời gian. Muốn sống gấp, sống nhanh, sống vội để chạy đua với thời gian. - Các câu thơ kéo dài thành 8 chữ để dễ dàng vẽ bức tranh cuộc sống thiên đường chính ngay trên mặt đất, ngay trong tầm tay của mỗi chúng ta.- Điệp từ: Này đây Tất cả như được bày sẵn, mời gọi mọi người thưởng thức một bữa tiệc trần gian.- Nhịp thơ nhanh, gấp biểu hiện hơi thở sống, nhịp điệu sống, nhịp thở phập phồng. TIỂU KẾT: Thông qua những điệp từ, điệp ngữ, những phép láy vần, điệp thanh, những biện pháp so sánh, ẩn dụ, hoán dụ đặc biệt là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác đặc sắc, Xuân Diệu đã làm hiện lên một bức tranh, một hình ảnh cuộc đời tràn đầy âm thanh, màu sắc. 2. Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người c14-30- Triết lí về thời gian: 	+ Xuân tới - xuân qua + Xuân non - xuân già + Xuân hết - tôi mất. + Lòng rộng - đời chật. + Xuân tuần hoàn – tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại + Còn trời đất – chẳng còn tôi - Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi, mong manh của kiếp người trong sự chảy trôi nhanh chóng của thời gian. + Quan niệm về thời gian tuyến tính, một đi không trở lại (so sánh với quan niệm thời gian tuần hoàn của người xưa).+ Cảm nhận đầy bi kịch về sự sống, mỗi khoảnh khắc trôi qua là một sự mất mát, phai tàn, phôi pha, mòn héo.+ Cuộc sống trần gian đẹp như một thiên đường; trong khoảnh khắc đó, thời gian một đi không trở lại, đời người ngắn ngủi – nên chỉ còn một cách là phải sống vội.Thiên nhiên:+ Năm tháng chia phôi + Sông núi tiễn bịêt. + Gió hờn + Chim sợ - Thiên nhiên, cảnh vật đều nhuốm màu chia phôi, li biệt, đều mang tâm trạng lo âu, phấp phỏng trước thời gian. Không còn chất vui tươi, tự nhiên như những câu thơ trước nữa. Nói thiên nhiên nhưng là nói lòng người. Người buồn cảnh buồn. XD là người luôn tha thiết cháy bỏng với cuộc đời nhưng lại luôn hoài nghi, bi quan, chán nản.- Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm : Muốn níu kéo thời gian nhưng không được. Vậy chỉ còn một cách là hãy sống cao độ giây phút của tuổi xuân. Nhà thơ như giục giã chính bản thân tận hưởng cuộc sống: hãy mau lên, vội vàng lên, gấp gáp lên, hãy vượt qua thời gian mà sống, mà cống hiến. Bởi giờ đây vẫn trẻ trung, vẫn đủ sức sống cống hiến tuổi xuân cho cuộc đời. 3. Lời giục giã cuống quýt vội vàng để tận hưởng tuổi xuân của mình... C 31-39- Điệp ngữ “Ta muốn”  chuyển từ cái tôi cá nhân sang cái ta mang ý nghĩa tình cảm chung, có tính phổ quát ( không chỉ là nhà thơ mà tất cả mọi người)- Các động từ mạnh kết hợp với nghệ thuật tăng tiến (ôm, riết, say, thâu, hôn, cắn) và một chuỗi câu được lặp lại: - Ta muốn – ôm – sự sống mơn mởn - Riết – mây đưa, gió lượn - Say – cánh bướm, tình yêu - Thâu – hôn nhiều - Cắn – xuân hồng - Cho: Chếnh choáng Đã đầy No nê.+ Từ chỉ mức độ: Chếnh choáng đã đầy no nê  +Điệp từ: và...và...và; cho...cho...cho.-> Tình cảm ngày càng mãnh liệt, cuồng nhiệt của chủ thể trữ tình.Hàng loạt các hình ảnh thơ tươi mới, đầy sức sống : sự sống mơn mởn; mây đưa, gió lượn; cánh bướm – tình yêu; cái hôn nhiều; non nước, cỏ cây -> Hãy sống vội vàng, ra sức tận hưởng tuổi trẻ, mùa xuân, tình yêu, những gì mà cuộc đời ban tặng thật hết mình; Bộc lộ sự ham hố, say mê, vồ vập, yêu đời, khao khát hòa nhập của tác giả với thiên nhiên và tình yêu tuổi trẻ.- Câu thơ cuối là đỉnh điểm của cảm xúc:“Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi”-> sự kết hợp giữa cái trừu tượng, thanh cao (xuân hồng) với cái cụ thể, tầm thường: đem lại sự bất ngờ, sáng tạo, thú vị.-> Sống vội vàng, cuống quít không có nghĩa là ích kỷ, tầm thường, thụ động, mà đó là cách sống biết cống hiến, biết hưởng thụ. Quan niệm nhân sinh của thi sĩ. 5. Tổng kết1. Về nội dung:  Quan niệm nhân sinh, quan niệm thẩm mĩ mới mẻ của Xuân Diệu – nghệ sĩ của niềm khát khao giao cảm với đời. 2. Về nghệ thuật:  - Sự kết hợp giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí.- Cách nhìn cách cảm mới và những sáng tạo độc đáo về hình ảnh thơ. HOẠT ĐỘNG 3: LUYỆN TẬPViết đoạn văn ngắn (5 đến 7 dòng) bày tỏ suy nghĩ về hiện tượng một bộ phận giới trẻ có lối sống gấp, sống ích kỉ trong cuộc sống hôm nay. ĐÁP ÁN Từ triết lí sống khao khát giao cảm với đời của nhà thơ Xuân Diệu, thí sinh bày tỏ suy nghĩ về một hiện tượng xấu của một bộ phận giới trẻ hiện nay, đó là sống gấp, sống ích kỉ. Cần trả lời các câu hỏi : sống gấp, sống ích kỉ là gì ? Hậu quả của lối sống đó ? Nguyên nhân và biện pháp khắc phục ? 

Tài liệu đính kèm:

  • pptbai_giang_ngu_van_11_bai_voi_vang_cua_xuan_dieu.ppt